Làng Phú Đa Quê Tôi – Phần I

731

Đây là bài viết của ông Đỗ Văn Trác, một người con đã xa quê hương Phú Đa nhưng vẫn luôn hướng về nơi mình sinh ra. Bài viết là một góc nhìn, một tình cảm, sự cảm nhận của bản thân về quê hương. Bài viết có những điểm rất bổ ích về góc độ lịch sử. Xin kính mời quý vị đọc để cảm nhận được điều đó.

 

Bài viết gồm ba phần:  I.  Làng Phú Ða quê tôi

II.  Nghĩa trang làng Phú Ða

III.  Tôi với quê hương

 

I.            Làng Phú Ða quê tôi

Làng Phú Ða từ lâu thuộc tổng Công Xá gồm bốn làng là: Phú Ða, Hồi Ðộng, Công Xá và làng Mạc Hạ, lấy tên chung là tổng Công Xá thuộc huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam. Sau ngày Cách mạng tháng 8/1945, đổi tên thành thôn Phú Ða, xã Công Lý, huyện Lý Nhân. Cơ quan huyện trước đây đặt tại Phủ Nga Khê, gần sát với đê sông Hồng, tức là ở phía cực Bắc của huyện. Sau này cơ quan huyện chuyển về Vĩnh Trụ, gần gốc cây gạo đôi. Từ đây vào thị xã Phủ Lý với quãng đường 15km theo con đường số 62.

Làng Phú Ða quê hương tôi có từ bao giờ tôi hoàn toàn không biết, cũng không nghe ai kể về lai lịch của làng, còn tài liệu viết về làng cũng không tìm đâu ra. Có thể có đấy, nhưng có ai lưu giữ để con cháu biết được quê hương mình có từ đời nào? 500 năm, hay 700 năm hoặc lâu hơn nữa, một làng quê bên hữu ngạn đồng bằng sông Hồng?

Làng Phú Ða xưa kia cũng là điển hình của nông thôn đồng bằng, có lũy tre bao làng: phía Bắc giáp với Mạc Hà và làng Triều; phía Nam là làng Hồi Ðộng; phía Ðông là làng Tế; phía Tây giáp với sông Châu. Từ bìa làng qua các làng lân cận là cánh đồng lúa trải dài từ 1 đến 2 km. Con đường 62B chạy qua giữa làng từ Bắc xuống Nam với chiều dài gần 1km, có một chợ gọi là chợ Xào, là một chợ quê họp theo phiên ngày 2 và 7 của tháng âm lịch. Phiên chợ đông khoảng vài trăm người, giữa chợ có một ngôi đình cổ ba gian. Những năm đầu thế kỷ 20, đình bỏ trống chỉ còn một số kệ thờ, nơi xưa các cụ hội họp làng, có bục bằng gạch xây cao rộng khoảng 30m2.  Nhưng từ 1930 về sau, khi tôi có được nhận thức và nhớ được cho đến ngày nay: sân đình rộng ước lượng 200 đến 300 m2, có những cây bàng tán rộng che phủ sân đình. Chúng tôi thường tụ tập đến đó đánh quay, đánh đáo, đánh khăng (cùng trang lứa có từ 10 đến 20 đứa). Ngày nay đình không còn nữa. Sân đình rộng rãi trước đây bây giờ có đến 10 hộ xây nhà kiên cố của người dân để ở. Nghe đâu hồi kháng chiến 9 năm bọn Pháp xây bốt lấy nhà Hội đồng làm trung tâm. Sau khi Pháp rút chạy, nhà này vẫn còn. Mấy năm gần đây làng bán luôn cho một hộ dân lấy được 10 triệu (giá bằng 1 xe mô tô Min khờ). Việc này mới xảy ra khoảng 15 năm nay. Hiện còn 1 cây bàng duy nhất xưa kia là giữa chợ. Người ta xây bao quanh nó làm nơi để bán thịt lợn hàng ngày.

1.1   Các xóm

Việc chia xóm trước đây của làng,tôi nhớ được là đến trước Cách mạng tháng 8/1945, cụ thể hơn là tới lúc tôi 17 tuổi, năm 1943 xa rời quê hương từ đó.

Xóm trong làng ở phía Ðông gồm xóm lẻ. Xóm này ở riêng biệt như một cù lao trên sông, có một đường nhỏ duy nhất vào xóm. Ðầu tiên là nhà ông Bào. Kế đó là nhà ông Hội Thâu. Tiếp theo là nhà ông Gộc, ông Cang. Hai ông là dân ngụ cư người Trung Quốc, đến từ những năm của thế kỷ 20. Cùng đến làng Phú Ða có 2 gia đình nữa là anh em cùng họ Từ là ông Từ Văn Khẩu và ông Từ Văn Kỷ ở xóm khác. Xóm lẻ này còn có nhà ông Tuyền, ông Kinh. Kế đó là ông Quê, nhà bà Bằng, sau cùng là nhà ông Thượng.

Từ xóm lẻ đi ra tiếp từ nhà ông Thẩm đến nhà tôi, thường gọi là nhà ông Tâu vì anh tôi tên là Tâu. Bố mẹ tôi thừa hưởng nhà cửa đất đai và một cái ao lớn. Gần đây tôi về chơi, người chủ mới cho biết và đưa cả cuốn sổ đỏ (QXÐ) ghi tổng cộng 1950 m2 cả ao lẫn đất nhà vườn. Nhân đây tôi cần nói rõ về nhà đất nơi tôi sinh ra: Ông Nội tôi tên là Ðỗ Văn Thuy (chết ngày 23/10 năm Bính Thìn tức 1916) ghi trên mộ chí. Bố tôi là con trai cả trong số 8 người con. Bố tôi thừa hưởng nhà đất như trong tập quán làng xã xưa kia. Bốn người em gái bố tôi đi lấy chồng thì theo chồng, còn 3 người em trai cũng được ông tôi lo toan có nhà và đất ở đầy đủ. Năm 1941 người chú tôi ở sát bên bán nhà và đất cho ngừơi làng. Cả vợ chồng và 2 cô con gái đi Nam kỳ vào làm ở Sở cao su. Năm 1942 người chú tôi là Ðỗ Văn Chấp có nhà đất ở xóm Bãi (bây giờ là xóm 6 Phú Ða) bán nhà đất cho ông Bá Lẫm vì ông giàu có không có con trai, lấy bà goá chồng có con tên là Nán, nhà đó bà vợ hai ông Lẫm về ở. Khi chú tôi đi Nam kỳ năm 1942 bà Thím và ba người con không còn chỗ nương tựa, mẹ tôi và tôi đồng ý để thím tôi cùng 3 người con về tá túc trong hoàn cảnh không biết nương tựa vào đâu. Năm 1943 tôi lại ra đi tiếp còn mẹ tôi và bà thím cùng 3 người con nhỏ ở lại. Năm 1955 tôi từ miền Nam về biết được mẹ tôi chết năm 1947 và mấy mẹ con thím tôi vẫn ở đó. Còn người con gái là Ðỗ Thị Diệu sinh năm 1941 có chồng và con cái đông đúc. Như vậy nhà đất ông tôi để lại rồi bố tôi chết năm 1940, nghiễm nhiên tôi được hưởng vì anh tôi đi phu tân Ðảo từ năm 1935.

Ðã hơn 60 năm tôi cũng không cho ai cả, và cũng không bán nhà đất nêu trên với bất cứ hình thức nào. Tôi chỉ biết vậy và phó thác việc ấy cho xã hội, vì tôi cho rằng mình có về quê sinh sống đâu nữa thì quan tâm đến nhà và đất ở làm gì. Năm 1975 do nhu cầu công tác tôi trở lại Sài Gòn công tác và đến năm 1978 về công tác ở quận Phú Nhuận. Năm 1981 quận phân chia cho căn nhà diện tích hơn 70m2. Khi hoá giá tiền đất phải trả gần 80 triệu, và trả dần trong 10 năm. Gần đây khả năng chi trả số tiền còn lại gặp khó khăn, tôi mới sực nhớ là quê hương mình xưa kia có nhà có đất. Đi hoạt động góp phần giải phóng giành lại đất nước, mà mình phải đi mua đất lại của nhà nước, mà không được sự ưu ái nào, không biết trong xã hội có ai như tôi không. Có người mách bảo tôi là bán nhà lấy tiền trả đủ cho nhà nước, còn lại tìm nơi nào đó mua đất làm nhà ở. Thử hỏi năm nay tôi tròn 80 tuổi còn sức đâu mà làm cái việc của tuổi trẻ họ làm.

Xóm tôi sinh ra là xóm trong làng, 2 xóm còn lại là xóm đường cái, vì xóm này ở dọc theo trục đường 62B từ Bắc xuống Nam, ở về phía Ðông con đường. Xóm còn lại là xóm bãi ở rải rác về phía Tây đường, một số 7, 8 nóc nhà gần với bờ sông Châu.

Trước Cách mạng tháng 8/1945 với khoảng 170, 180 hộ gia đình, dân số 600, 700 người thì nay số đó đã thay đổi quá lớn.  Từ 3 xóm thành 6 xóm với dân số ngày nay (2006) gần 3000 nhân khẩu.

1.2   Cơ Sở Tôn Giáo

Nhà thờ xứ đạo của làng Phú Ða, đã được xây dựng hơn 100 năm. Nhà thờ thuộc loại khá lớn trong vùng chung quanh, có tháp chuông cao với một chuông lớn. Khi chuông đổ hồi ở xa vài km vẫn nghe rõ. Nhà thờ, khuôn viên nhà thờ, nhà xứ, sân kho, nhà kho, nhà bếp…khá rộng. Từ xưa tới nay nhà xứ vẫn sản xuất cấy cày để có lương thực hàng ngày cho Cha xứ và những người giúp việc. Vì thế có một cổng chuyên để cho trâu đi gọi là cổng Trâu. Tuy nhiên những năm 30  nhà xứ cho nhân dân xứ đạo cấy rẽ, đến mùa gặt đem lúa về nhà xứ phơi khô quạt sạch và đổ vào kho của nhà xứ.

Nhà mụ như trước đây vẫn gọi, gần đây tôi về thấy ngoài cổng đề: Nữ tu viện Phú Ða. Dòng nữ tu này có từ bao giờ? Chắc chắn phải sau nhà thờ Phú Ða. Nhà tôi ở sát với dòng nữ tu này. Vào khoảng năm 1930 – 1940 luôn luôn có khoảng từ 25 – 30 cô, phần lớn các cô có tuổi ngoài 20. Đặc biệt ở làng sở tại không có ai đi tu, mà hầu hết ở mãi đâu về đây tu. Khuôn viên dòng tu này khá rộng, có đến vài hecta vườn ao và nhà đất ở, có một sân gạch rộng vài trăm m2. Thời ấy làm ruộng đã có ba con trâu nuôi để cày bừa, có một toán lực điền 3 – 4 người làm theo thời vụ. Số lượng sản xuất đủ cung cấp cho 30 người ăn quanh năm. Sáng sớm hàng ngày toàn thể đi lễ nhà thờ với trang phục áo dài đến gót chân, trên đầu trùm khăn vuông đen có viền trắng ngang trán. Chiều 5 giờ sau hồi chuông nhà thờ, họ đến nhà thờ như buổi sáng và chỉ đọc kinh. Tối sau khi cơm nước xong, khoảng 8 giờ họ đến nhà nguyện trong khuôn viên và đọc kinh cầu nguyện cho đến 10 hoặc 11 giờ mới thôi. Quanh năm suốt tháng đều hoạt động như vậy.

Tôi đã gặp nhiều nơi trong nước, dòng nữ tu cũng nhiều, và làm cái việc của xã hội như: giáo viên dạy học, y tá săn sóc bệnh nhân ở các bệnh viện, nhất là việc khó khăn như phục vụ bệnh nhân cùi hủi, bệnh nhân tâm thần… Dù sao tôi cũng phải so sánh và nhận định giữa tu viện nữ làng Phú Ða với một số nhà dòng khác mà tôi biết, nhất là dòng nữ tu ở Sài Gòn.

1.3  Sơ lược về các dòng họ

Nếu đến mảnh đất này lập nghiệp để có được làng Phú Ða ngày nay có lẽ do ba ông tổ dòng họ là: Họ Ðỗ, Họ Nguyễn và Họ Tạ. Cả ba dòng họ đó gần như có dân số bằng nhau, không dòng họ nào chiếm ưu thế hơn dòng họ kia Chỉ khác nhau là ở một thời điểm nào đó dòng họ này khá giả và dòng họ kia suy tàn, nghĩa là kẻ giàu người nghèo. Ðầu thế kỷ 20 có 4 anh em họ Từ người Trung Quốc lưu lạc đến tá túc làng Phú Ða. Do không biết được tên chỉ biết là ông Cộc, ông Kỷ, ông Cang và ông Từ Văn Khẩu. Ông Khẩu đi lính Pháp, không biết có sang Tây tham chiến năm 1914 – 1918 hay không. Sau đó về làng và lấy vợ có 2 con. Ông chết năm 1940. Người con trai theo mẹ vào Nam Kỳ từ năm 1944, tên là Từ Kim Phùng, nay khoảng 75 tuổi, sống với vợ con ở Hiệp Hoà – Tân An. Người con gái tên là Từ Thị Vơn, sinh tại Phú Ða năm 1935. Sau khi mẹ và anh trai đi rồi có một thời gian mẹ tôi nuôi dưỡng được vài năm. Sau đó về ở với người bác ruột là ông Kỷ. Một việc thật lạ lùng tôi không ngờ được là: em Từ Thị Vơn kém hơn tôi gần chục tuổi, khi cuộc kháng chiến chống Pháp lan ra cả nước thì năm 1946, rồi đồn bót địch xây dựng ở Hà Nam trong đó có ngay tại làng Phú Ða. Thế mà em Vơn lại ở trong một tổ chức hoạt động cho công cuộc kháng chiến chống Pháp và có mấy lần bị bắt và bị chúng tra tấn dã man. Khi miền Bắc giải phóng thì em cũng vừa đến tuổi xây dựng gia đình ở tại làng Phú Ða. Có ba người con trai và một cháu gái nay đã trưởng thành, có gia thất đầy đủ. Riêng em Vơn là mẹ của bốn người con, bị cường lách quá lớn, nên Bệnh viện Việt Ðức – Hà Nột đã quyết định mổ. Nhưng em sợ mổ chết bỏ con nên không dám mổ, cuối cùng mấy tháng sau chết. Không biết bệnh tật có liên quan đến đòn tra tấn khi bị bắt trước đây hay không. Ở làng Phú Ða trong cuộc kháng chiến chống Pháp, duy nhất có em Từ Thị Vơn hoạt động kháng chiến, ngoài ra hầu như không còn ai tham gia chống Pháp ở làng.

Làng chia thành ba giáp, nghĩa là một dòng họ là một giáp. Họ Ðỗ bao gồm mọi thành viên là giáp Trung. Họ Tạ gọi là giáp Nam và giáp Bắc thuộc họ Nguyễn. Riêng giáp Trung có hai giáp là Trung mới và Trung cũ. Sở dĩ có việc như vậy là xưa kia cũng có một giáp các cụ bề trên lúc nào đó mất đoàn kết đòi chia giáp thành hai, con cháu đành chịu sự việc ấy, ai mà dám cãi.

Mỗi giáp có đồ thờ riêng. Cụ thể phải có một trống đại, một số trống con, có lệnh đúc bằng đồng to bằng cái thúng dùng vào việc đưa đám ma, cờ quạt màu sắc riêng biệt. Nhìn vào lá cờ biết được thuộc giáp nào. Những người ngụ cư họ Từ nói trên không ở giáp nào cả. Họ có nhà cửa, vợ con đầy đàn đầy đống.

Cuối năm mỗi giáp đều làm cỗ chia phần thịt. Các cụ ở bàn nhất, nhì, ba được nhiều thịt lợn. Còn con trai bất kể lớn bé từ 18 tuổi trở xuống gọi là trẻ con đều được một phần khoảng một kg như ngày nay. Nhà ai có nhiều con trai được nhiều thịt, còn đàn bà con gái không được tham dự việc chia phần. Những việc như vậy ngày nay nói ra ai tin được. Việc làng hồi xưa là như vậy đó.     

 

Viết xong ngày 27/2/2006

ĐỖ VĂN TRÁC

Làng Phú Đa Quê Tôi – Phần I
5 (100%) 2 vote[s]