Làng Phú Đa Quê Tôi – Phần II

494

1.4 Cánh đồng quê

Những cánh đồng xưa kia đều có tên gọi: Ở phía Ðông của làng cách khoảng một km, có cánh đồng Cổ ngựa. Hồi tôi còn ít tuổi nghe những người lớn tuổi kể về một giai thoại của cánh đồng như sau: có một sĩ tử quê ở làng Phú Ða đi thi ở Kinh kỳ, đỗ cao, được nhà vua ban cho áo mão và một con ngựa, đồng thời cử đội quân có lọng che, gươm giáo cờ quạt, từ kinh kỳ về để vinh quy bái tổ, sau đó về kinh để đi làm quan. Ðoàn tuỳ tùng về đến cánh đồng này dừng lại để dân làng Phú Ða ra đón. Nhưng không hiểu sao mà dân làng không đón tiếp. Ông tức giận và hạ trại, cho chém ngựa ngay tại cánh đồng này và thề rằng: từ nay dân làng Phú Ða đừng ai học nữa, lại càng không nên để tình trạng như ông. Sau đó ông và đoàn tuỳ tùng rút đi, không biết có về kinh đô hay không. Thủơ ấy tôi còn nhỏ và chỉ nghe được có vậy. Khi tôi hơn 10 tuổi, thường hay qua cánh đồng này, thấy rộng mênh mông. Và tôi thấy có nhiều gò đống rải rác trên ruộng, đặc biệt có một bờ cao ngang thắt lưng, dài hàng trăm thước, người làm ruộng cuốc vạt đi nhiều nhưng bề ngang vẫn còn khoảng nửa thước. Ðến đây cánh đồng Cổ ngựa dừng lại đó. Sau này tôi đọc những trang sử nhà Trần chống quân Nguyên Mông, đến đây tôi lại suy nghĩ theo chiều hướng khác: từ cánh đồng vừa nêu ở ngay ngã ba đường, đường đất tuy nhỏ đi lên phía Bắc là đến đê sông Hồng, đi về phương Nam hơn ba km là đến chợ Cầu không. Cách đây 700 năm, vào những năm của thế kỷ 13, các vị vua triều đại nhà Trần ba lần đánh nhau với quân Nguyên Mông xâm lược và cuối cùng chiến thắng. Thời ấy việc đi lại từ Nam ra vùng duyên hải qua vùng Cai khổng là thuận tiện, nên vùng sông nước này là nơi nhà Trần lập nên kho hậu cần tiếp tế cho tiền phương đánh giặc. Biết đâu cánh đồng Cổ ngựa kia đã xảy ra những trận chiến giữa quân ta và quân Nguyên hoặc chí ít cũng là nơi luyện tập cho quân sỹ ta trước khi xung trận.

Những giai thoại, chuyện kể của tổ tiên ông bà để lại nó bắt nguồn từ sự việc cụ thể, nhưng trải qua mấy trăm năm nó vẫn giữ được nội dung mà xưa kia ông cha ta để lại. Ngày nay “cầu Không” bằng gỗ lim bắc qua cách đây hơn 60km. Tôi còn thấy một phần về phía Tây giống như một toà nhà bắc qua sông dài 50m, phần về phía Ðông hỏng hoàn toàn, còn lại những cột lim nhô lên khỏi mặt nước vài thước,cạnh đó về phía hạ lưu của cầu gỗ là một cầu bằng xi măng nối hai bờ đông tây, đi về phía Ðông ra sông Hồng sang Thái Bình, còn về phía Tây cách đó hơn 1km là trường THPT Bắc Lý. Những năm trước đây trường Bắc Lý là trường dạy tốt và học tốt, là lá cờ đầu của ngành giáo dục nước nhà.

Ở trên tôi nói cánh đồng Cổ ngựa phía Ðông của làng, đây tôi nói đến một cánh đồng khác gọi là cánh đồng Hồng Quan. Cánh đồng này nằm ở phía Nam của làng bên cạnh đường 62B. Theo con đường này đi về phía Nam khoảng hơn 2km là đến một ngã đường có cây gạo cổ thụ, gốc rất to phải hai người ôm không giáp vòng. Nhưng sở dĩ có tên gọi là vì cây gạo vừa khỏi mặt đất lại chia thành hai nhánh bằng nhau và vươn cao vút bằng nhau, nằm trên một ngã tư đường: đi về phía Ðông là qua trường Bắc Lý, cầu Không, đi về phía Tây là vào phủ Lý, 15km đi về phương Nam là xuống Nam Ðịnh. Con đường này đi giữa huyện Lý Nhân, đi qua xã Ðại Hoàng quê hương nhà văn Nam Cao (mộ của nhà văn đã được đưa về đây). Từ gốc gạo đôi lên phía Bắc qua làng Công Xá, qua làng Hồi Ðộng là đến cánh đồng Hồng Quan quê tôi.

Cánh đồng này tên gọi chắc lâu lắm rồi. Cánh đồng này có thể xưa kia cấp cho một ông quan nào đó đã có công trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trước đây. Một bằng chứng nữa là bên kia đường cách vài trăm thước có một đền mà lúc tôi còn nhỏ thường gọi là “chùa Sở”. Ðền xây trên mô đất cao hơn mặt đường, diện tích đền khoảng 15 – 20m2. Mặt đền quay về phương Nam. Trong đền có tượng duy nhất trên kệ thờ. Khuôn khổ tượng to gần bằng người thật, ngồi trên ngai, chân đi hia, đầu đội mũ cánh chuồn, mặt mũi quắc thước, râu đen năm chòm. Năm 1943 một chiều khi tôi rời quê hương Phú Ða đi phu Nam Kỳ, tôi đứng ở đây và nhìn về quê nhà qua luỹ tre làng là xóm nhà tôi, ở đó còn bà mẹ đang ở lại nhà, tháp nhà thờ Phú Ða kia và lát nữa năm giờ chiều là chuông đổ gọi dân làng đọc kinh chiều. Bức tranh đó đã 63 năm bây giờ tôi còn nhớ như phiên bản của tấm hình chụp ở trong não. Cánh đồng này gần với hồ rộng hơn là việc Hồi Ðộng rộng mấy hecta có từ bao giờ tôi không biết. Cánh đồng này có mồ mả của ông bà ngoại tôi và dòng họ ngoại tôi. Cách đây khoảng hơn 20 năm, họ hàng bên ngoại tổ chức tìm được mồ mả và đưa về nghĩa trang của làng. Khi cải cát thì thấy những đồ tuỳ táng là cổ xưa, và áo quan còn lờ mờ chữ nhỏ không đọc được khi mở nắp thiên.

Qua sự việc trên: cánh đồng “Quan” và chùa Sỏ người ta đưa cái chùa kia về bên làng Hồi Ðộng vì bên đó là bên lương, còn cánh đồng vẫn là Phú Ða vì ruộng đất dân làng quản lý và canh tác. Năm 1992 tình cờ tôi từ Hà Nội về quê đến Phủ lý thuê xe ôm về làng. Trên đường về chuyện trò với người lái xe là anh công nhân làm ở đường sắt. Đi xe chẳng qua là trên đường về quê kiếm them. Vì biết anh lái xe là quê ở Hồi Ðộng và biết nhiều địa danh, tôi nhờ anh đưa đến chùa Sỏ viếng thăm. Nhưng ở đây chùa không còn. Tượng ông quan nhân dân di chuyển về tập trung ở một chùa cách đó vài cây số. Tôi tìm đến và hỏi thăm thân thế và sự nghiệp tượng mà tôi đi tìm thì bà sư nữ (bà mù hai mắt) tuổi bà ngoài 80 – 85 nói bà không biết gì về việc này. Tôi thất vọng và chụp được tấm ảnh trên bàn thờ tượng ông quan ở chùa Sỏ đã đưa về đây. Trên bàn thờ còn nhiều tượng khác.

Thực dân Pháp sau khi chiếm nước ta, và thời kỳ những năm 20 (thế kỷ trước) là thời kỳ tôi cho là những chính sách cai trị rất xấu xa và nham hiểm. Pháp ở Hà Nội và ở cả Phủ lý cách Phú Ða gần 20 cây số. Pháp không trực tiếp cai trị nhưng những người thừa hành tận tâm lắm. Nào là: người công giáo không giao du với người bên lương, không được ăn của cúng của người bên lương. Thậm chí cấm không được đi xem hát chèo, xem lễ hội như lễ hội chùa Hương, lễ hội Phủ Dày v.v… Ai mà phạm vào điều cấm đó sẽ bị rút thông công. Mà đã rút phép thông công thì linh hồn sẽ phải xuống hoả ngục, ôi sợ quá. Linh hồn của người ra sao, chỉ thấy đọc trong sách kinh và sách hỗn dạy, rồi truyền miệng với nhau. Đã có ai chết linh hồn đi rồi về thuật lại đâu? Hoạ may có giấc mơ ngủ.

Phải nói trung tâm làng Phú Ða là đình chùa và chợ Xào. Về địa lý nó vẫn ở giữa làng có con đường lớn 62B chạy qua. Con đường trước đây là con đường đất, năm 1934 được rải đá để ôtô khách hàng ngày có 1 chuyến chạy từ Phủ Nam Xang vào Phủ Lý. Đến 12 giờ trưa từ Phủ Lý về qua chợ Xào. Khách trên xe khi nào đông có khoảng từ 20 – 25 người. Tôi cũng chỉ khi nào xe qua mà ước lượng số khách, chớ có khi nào được bước lên cửa xe đâu.

Như trên tôi đã nói về chợ và đình làng, còn chùa thì không. Ngày nay ở đây vẫn còn hai cái ao lớn là ao đình Sát với chợ Xào, còn ao chùa ở về phía trên. Ao đình có bờ ao riêng biệt, trước đây một cái ao rộng khoảng 1000m2, bây giờ tôi thấy nó hẹp lại nhiều.

Xưa kia đầu đình phía đông là nhà của bà Khất. Bà Khất làm mõ của làng không biết tự bao giờ. Khi tôi có trí khôn thì đã có bà. Gia đình bà có 3 – 4 người con gái và 1 người con trai cùng trang lứa với tôi. Thời ấy mà làm mõ làng người ta coi là loại thấp hèn nhất trong xã hội. Vì thế mấy người con gái lớn không lấy được chàng trai nào của làng. Cô gái gần út tên là cô Tạm cũng không phải là đẹp, thuộc loại vừa vừa. Cô rất ngoan và hoạt bát, chắc cũng không lấy chồng ở làng, phải đi làng khác. Vừa qua tôi có hỏi ông chủ tịch xã Công Lý nay ông đã nghỉ hưu ông cho biết gia đình đó còn 1 người hiện đang sống ở Phú Ða.

Như trên tôi đã trình bày những cánh đồng về phía Ðông của làng Phú Ða, có phần mang dấu ấn lịch sử qua những câu chuyện, giai thoại và qua đó tôi suy luận để cung cấp cho những thế hệ mai sau có một ý tưởng nghiên cứu làm rõ và kết luận khách quan. Những cánh đồng này thời ấy (1930 – 1940) gọi là ruộng tư điền, tức là ruộng đất có quyền bán, sang nhượng.

Bây giờ tôi nói đến những cánh đồng phía Tây của làng Phú Ða. Ðã nói đến một làng nông nghiệp thuần tuý thì những tên gọi của cánh đồng làng rất mộc mạc và dân dã, nó gắn liền với mọi người nông dân của làng.

Năm tôi khoảng 8-9 tuổi (khoảng năm 1934 – 1935) những buổi trưa hè ngồi hóng mát ở dưới lùm tre, nghe cô bác những người lớn tuổi kể chuyện cổ tích về một vị thần linh nào đó: chuyện kể rằng có một vị thần đầu gối núi Ðọi, chân dọi Tầm Vương, tức là đầu ở trên núi cách quê tôi 3 km về phía Bắc, còn hai chân của vị thần mãi ở Tầm Vương và có người nói xa hơn, hai chân vị thần qua Vĩnh Trụ, rồi qua Tào Nha, qua Nam Xá để đi xuống miền đất Nam Ðịnh. Lúc ấy tôi chỉ nghe vậy và ước lượng độ dài của vị thần linh kia nằm sâu trong lòng đất có đến hơn 10 km. Vị thần ấy mà vùng dậy có lẽ làm tan nát bao làng mạc mà vị thần ẩn mình dưới lòng đất. Sau này tôi lớn lên và suy nghĩ về truyền thuyết của những cánh đồng phía Tây làng Phú Ða.

Cánh đây hơn 20 năm, một buổi chiều đứng trước ga Hàng cỏ Hà Nội chuyện trò với một người lái xe Honda ôm, là một quân nhân xuất ngũ. Trước đó anh đã đi khắp các chiến trường miền Nam. Anh cũng đã vào Sài Gòn ngày 30/4/1975. Bây giờ anh lái xe máy kiếm tiền nuôi gia đình. Có lẽ anh là một trong số những lái xe ôm lâu nhất của Hà Nội. Anh thấy tôi muốn hỏi về núi Ðọi và chùa Ðọi ở Hà Nam, anh ta nói một cụm từ có liên quan: ăn không nên đọi nói không nên nhời, và tôi hiểu ngay: cầm cái bát không biết ăn, và nói ấp a ấp úng không ai hiểu gì. A, té ra “đọi” là cái bát! Vậy mà hơn 60 năm chỉ một từ “cái bát” bây giờ mới thuộc.

Những năm sau đó, mỗi khi ngược xuôi qua đường 1A qua ga Ðồng Văn, hoặc nếu đi từ ga Ðồng Văn về Yên Lênh, ở hai vị trí này nhìn về núi Ðọi rõ nhất, tuy cách xa núi theo đường chim bay cũng phải hàng chục cây số. Thật kỳ diệu, giữa cánh đồng bao la bát ngát kia, không có vạt rừng nào lại nổi lên một quả núi như hình một cái bát khổng lồ úp miệng xuống đất, là quả núi đất chen lẫn đá, có nhiều cây rừng mọc theo triền núi từ nghìn xưa để lại. Trên đỉnh núi người xưa đã xây dựng một quần thể gọi là chùa Ðọi (có thể tên chùa gọi khác, nhưng tôi thấy thường gọi nôm na như vậy).

Năm 2001, tôi và mấy người con về quê Phú Ða thăm quê hương, sau đó lên núi Ðọi thăm chùa Ðọi. Nhà sư chủ trì tiếp cha con tôi thật chân thành. Nhà sư năm ấy còn khá trẻ, chỉ khoảng ngoài 40 – 45 tuổi, người dong dỏng cao, trông như một thư sinh đẹp trai. Nhà sư giới thiệu về chùa, các bức tượng đang trưng bày để thờ cúng. Nhưng tôi chú ý đến trang thờ bà Lý Chiêu Hoàng ở một vị trí trang trọng nhất của chùa. Nhà sư kể là khi công chúa Lý Chiêu Hoàng từ kinh đô Hoa Lư tỉnh Ninh Bình đi bằng thuyền qua con sông chảy quanh núi và thấy núi đẹp, hoà quyện với đất đai bao quanh nên công chúa có ý tưởng xây một ngôi chùa trên núi Ðọi để lưu lại dấu tích cho con cháu sau này chiêm ngưỡng. Nhà sư kể tại sao con sông chảy quanh núi Ðọi là Châu Giang: vì dưới  lòng sông có loài trai to hình lục lăng bát giác, con bé bằng vung nồi hai nồi ba. Có con bằng cái vung nồi năm. Cái tên gọi vung nồi bằng đồng đó là nếu nấu cơm đủ ăn theo thứ tự nắp nồi. Theo nhà sư, chỉ ở lòng sông này mới có loài trai sinh ra “ngọc” nên gọi tên sông là Châu Giang, gọi nôm na là sông Châu (châu báu) . Nhà sư cũng dẫn tôi ra một vị trí cao nhất của núi (khoảng 300 – 400 m so với mặt đất) để quan sát bao quát chung quanh. Từ vị trí này nhà sư nói “kia kìa, làng Phú Ða của ông đấy. Con sông thân yêu này qua làng Quán Trung, làng Quan Văn, làng Mạc Hà đến quê ông hơi uốn cong dựa lưng vào xóm rồi xuôi dòng xuống huyện Lý Nhân và đi nữa”. Ðến đây rồi tôi như bừng tỉnh về truyện cổ tích mà tôi nghe được lúc  9 – 10 tuổi.

Về nhân vật lịch sử công chúa Lý Chiêu Hoàng, làm vua cuối cùng của triều đại nhà Lý. Khi lên ngôi vua Lý Chiêu Hoàng tuổi còn nhỏ. Thời điểm này có dấu hiệu suy tàn ở cung đình, gặp lúc vương triều nhà Trần sắp ra đời. Một vị quân sư cực kỳ tài giỏi là Trần Thủ Ðộ đã tính toán sao cho Lý Chiêu Hoàng bấy giờ là vua, nếu Trần Cảnh là cháu ông lấy được vua khắc sẽ truyền ngôi cho chồng. Tức là ngôi vua của triều đại họ Lý sang triều đại nhà Trần một cách hoà bình. Quả là tôi lạy ông Trần Thủ Ðộ! Nước Nam mình có ai giỏi như ông về việc chuyển giao quyền lực vương triều và cả sau khi nước ta bị quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất, ông là linh hồn của cuộc kháng chiến chống xâm lược và cuối cùng đã chiến thắng huy hoàng.

Tôi có về làng Ðình Bảng ở Bắc Ninh. Nơi đây thờ tám vị vua triều đại Lý, từ Lý Thái Tổ cho đến vị vua thứ tam, từ xưa gọi là Bát Ðế. Vua Lý Chiêu Hoàng là thứ chín nhưng không có nơi thờ vị vua cuối cùng này. Nghe đâu vua Lý Chiêu Hoàng cũng được mai táng ở đâu đó quanh vùng.

Vương triều nhà Lý sau khi bị lật đổ và vương triều nhà Trần lên nắm quyền, chuyện xảy ra giữa hai vương triều này sao tránh khỏi, điển hình như: hoàng thân Lý Long Tường cùng hoàng thân quốc thích họ Lý lập được một đội thuyền lớn chở dòng họ từ Việt Nam qua Trung Quốc xin cư trú chính trị, nhưng bị nhà vua Trung Quốc từ chối. Đoàn tiếp tục đi lên phía Bắc cặp vào bờ bán đảo Triều Tiên. Lúc bấy giờ vương triều Cao Ly đồng ý cho cư trú và cấp đất đai, giúp đỡ buổi ban đầu cho đoàn người tị nạn vì lý do chính trị ở chính quốc. Một điều đặc biệt là sau khi ổn định cuộc sống lưu vong của đoàn hoàng thân Lý Long Tường, thì lúc quân Mông cổ tràn sang đánh nước Cao Ly. Đến lúc này bầu máu nóng của những người họ Lý lưu vong lại nổi lên bênh vực người yếu thế. Cha con dòng họ ai có tài cán gì đem ra cùng nhà nước Cao Ly chống quân xâm lược Nguyên Mông. Có thể nói thời bấy giờ khó có nước nào địch nổi Nguyên Mông trừ Việt Nam, theo nhiều báo đã nêu.

Ông Lý Xương Căn là hậu duệ đời 33 họ Lý và đời 24 hậu duệ của Hoàng thân Lý Long Tường, người cầm đầu của đoàn người đi lưu vong. Ông Căn về Việt Nam, nhớ về quê hương nhớ về nguồn cội của dòng họ. Ông đến nơi thờ tám vị vua triều đại nhà Lý. Nhưng những người của Hoàng tộc nhà Lý có thể lên án công chúa Lý Chiêu Hoàng là kẻ phản bội, là người đem vương triều nhà Lý dâng cho nhà Trần. Lịch sử đã diễn ra như thế không sao thay đổi được. Tôi cho rằng bà Lý Chiêu Hoàng không có tội gì với đất nước. Chính bà là người ở vào trục bản lề của triều đại đang suy tàn, rồi cũng chính bà là người truyền ngôi cho triều đại nhà Trần hưng thịnh, có lịch sử chống xâm lược oanh liệt nhất của cả thế giới lúc bấy giờ.

Dòng sông Châu thân yêu uốn khúc bao quanh núi Ðọi, trên ngọn núi là một quần thể ghi những dấu tích lịch sử dân tộc. Sông núi này đã bao ngàn năm tồn tại. Ước gì cảnh đẹp của non sông nơi đây được tôn tạo để cho thế hệ con cháu sau này ở vùng quê hương tôi – xã Công Lý Huyện Lý Nhân Hà Nam đến đây mà chiêm ngưỡng.

Một vị thần linh nào đó đầu gối núi Ðọi, chân dọi Tầm Vương, người xưa đã tạo ra cho người đời biết hoá ra con sông Châu này không biết từ  bao giờ. Hàng mấy nghìn năm trước đây, hàng năm cứ đến mùa nước lại dâng lên và chảy về phương Nam, mang theo phù sa có kèm theo các chất bồi đắp cho hai bên bờ, tạo ra những cánh đồng mênh mông bằng phẳng và màu mỡ. Xa hơn nữa tôi không biết, chỉ tính từ núi Ðọi, con sông thân yêu này đã bồi đắp cho làng Quan Trung, làng Quan Văn, làng Mạc Hà và quê tôi – làng Phú Ða. Bên hữu ngạn như: Yên Mỹ, làng Nong, làng Ngô Khê…Nếu ngược lên phía Bắc và xuôi dòng về phương Nam còn biết bao nhiêu những cánh đồng thiên nhiên do dòng Châu Giang hiến tặng cho nhân dân. Còn nữa, ngàn đời sau dòng sông này vẫn tiếp tục tải nước về cho sản xuất và sinh hoạt cho dân.

Những cánh đồng quê hương tôi làng Phú Ða:

1.  Cánh đồng gốc đa:

Từ chỗ chợ Xào đi ra phía Tây khoảng 300m, gặp ngã ba có cây gạo cổ thụ rất cao rẽ bên phải khoảng 100m, ở đây có một cây đa rất to. Gốc đa phải 2 – 3 người lớn dang tay ôm mới giáp vòng. Là cây cao bóng cả, mùa hè là nơi trú nắng cho người đi làm đồng. Rất nhiều cọc buộc trâu bò chung quanh gốc đa. Không biết cớ gì khoảng năm 1938-1939 cây đa cổ thụ kia bị chết đứng và ông Lang Cần (ông Tựu) mua được xẻ gỗ không biết bao nhiêu.

Tôi muốn nói đến cánh đồng này: có lẽ trong sản xuất lúa ngô khoai thì rất tốt, vì mùa khô đã đủ tưới, và nếu là mùa mưa ở cánh đồng khác nước ngập, nhưng cánh đồng này gần như thoát nạn. Bao năm rồi tôi trở lại quê nhà thấy nhà cửa, ao vườn, đường đi nội bộ tạo thành một xóm mấy chục nóc nhà, xoá đi mấy chục héc ta ruộng cày cấy thành đất thổ cư cả, tiếc quá biết làm sao được.

2.  Cánh đồng đường lò:

Từ gốc đa cũ đi lên phía Bắc vài trăm mét gặp con đường đất gọi là đường Lò. Có lẽ xưa kia có lò gạch mới có tên như vậy. Dọc theo đường chừng 1 km là cái ngòi dẫn nước cho cấy cày và thoát nước khi bị úng ngập.

3.  Cánh đồng Cánh Bến:

Từ gốc đa xuôi phía Nam, khoảng 500m đến nhà ông Chánh Hội có con đường gọi là đường Ngay.  Mà nó ngay thật, từ Ðông sang Tây gần một cây số là con đường đất mấp mô, có nhiều chỗ là nong tát nước lên ruộng cho cánh đồng cánh Bến. Nhưng khi mưa cánh đồng thường hay ngập nước.  Có năm mất mùa lúa.  Ở đấy có hai phần ruộng mỗi phần là 6 sào Bắc Bộ.  Làng phân phối cho ông thầy giáo Tạ Minh Tri khi ông nhận nhiệm vụ dạy học tại làng. Ðây là việc ưu ái với thầy giáo đã có công đóng góp vào việc học hành cho con em của làng, khoảng từ năm 1937 trở đi.

Đoạn đê bồi bờ sông Châu dài hơn 1000m. Ðây là cửa khẩu hàng ngàn năm đưa phù sa vào để tạo ra những cánh đồng màu mỡ cho làng Phú Ða. Biết bao nhiêu thế hệ nhân dân của làng đã tồn tại và phát triển được là nhờ vào những mảnh ruộng kia. Ở phía cực Bắc đoạn đê giáp với đường “địch lộ” là trang trại của ông Nhiên Sinh. Ông Nhiên Sinh có người em trai cùng lập trại với nhau trên thửa đất, mỗi người là 6 sào Bắc Bộ. Thời bấy giờ ở những vị trí vắng vẻ như vậy phải nói là có bản lĩnh lắm để đương đầu với trộm cướp nếu xảy ra. Ông Nhiên Sinh có vợ con. Vợ ông chết từ lâu. Người em trai ông có cô vợ trẻ, con trai tên là Canh. Vì cuộc sống thiếu thốn, ông Canh đi phu Tân Ðảo năm 1935, để lại người vợ trẻ và đứa con trai ở quê nhà. Nghe đâu năm 1963 ông Canh đã hồi hương do nhà nước Pháp tổ chức đưa những người trước đây họ mộ phu đi, nay họ trả về. Những tốp phu rải ra ở về phía Nam Thái Bình Dưong trên các đảo Nouvelle Hebrid, Nouvelle Caledonie.  Xưa kia đi tàu thuỷ phải mất một nửa tháng mới tới, vì đoạn đường biển dài hơn 10.000km. Thời bấy giờ chính quyền Pháp chỉ mộ phu ở Bắc Kỳ, và lên tàu biển từ Hải Phòng. Ngươi anh tôi Ðỗ Văn Tâu (sinh 1911) cùng đi vào những năm đó. Khi chính quyền Pháp cho hồi hương  anh tôi đã ở lại cùng vợ và bốn người con trai sống tại Nóuma Nouvelle Calédonie. Năm 1978 ông bị tai nạn giao thông và chết sau đó một ngày. Năm 1963 – 1964 rất nhiều người đi phu Tân Ðảo hồi hương nhưng anh tôi không về, có lẽ do nỗi ám ảnh của cảnh đói nghèo mà bố mẹ và của bà con dân làng Phú Ða khi anh còn ở nhà lúc anh 22 – 23 tuổi.

Nơi tiếp giáp ở phía Nam với dòng sông Châu là nhà ông Tuần Tường. Không biết trước đây ông làm Trương tuần của làng hay là làm tuần dưới sự chỉ huy của Trương tuần. Tôi biết ông lúc ấy khoảng ngoài 60 tuổi. Bước chân ông nhẹ như đi trên gió. Có lúc ông ngẫm nghĩ rất lâu. Hai tay ông khi thì nắm chặt lại, dứ dứ vào không khí, có khi một tay ông đỡ trên đầu. Có lẽ ông hình dung lại cái thời tuổi xuân của ông bằng những đòn gậy tày tay thước cùng với trang lứa của ông trong những đêm cùng nhau ra tay. Người ta sợ ông trước đây và bây giờ bây giờ tuổi ông đã xế chiều ông lại sợ thiên hạ một cách mung lung. Ở phía Bắc có nhà ông Nhiêu Sinh và ở phía Nam có ông Tuần Tường, cả hai đều ở trang trại biệt lập.

Ở những cánh đồng phía Tây của làng Phú Ða thời đó là đất ruộng công điền, phân chia cho ai đủ 18 tuổi, là con trai cộng với một số yếu tố khác mới phân ruộng là sáu sào Bắc Bộ (1 sào là 360 m2) để cấy cày. Như vậy gia đình nào cũng có một hoặc hai phần đất để cấy lúa, thậm chí có gia đình được ba phần. Vậy mà những năm đầu của thế kỷ hai mươi dân làng Phú Ða lại chịu cảnh đói nghèo. Nếu những nhà đủ ăn hai bữa tôi có thể đếm được trên đầu ngón tay, vì tôi còn nhớ được gần tất cả làng, nhà ai to nhỏ, từ cái cổng vào nhà, sân nhà ai bằng gạch hay bằng đất. Nếu bây giờ tôi vẽ sơ đồ của cả làng từng nhà một cách đây 60 năm tôi đã ghi nhận được tất nhiên sẽ không thể có sai sót nhỏ.

1.5   Những người thày giáo của Làng

Những người thầy giáo ở làng Phú Ða tôi biết : hầu hết các ông giáo do nhà xứ đạo quản lý và điều hành. Việc dạy chữ chỉ là một phần trong công việc của họ. Phần trông coi giữ trật tự thiếu nhi ở nhà thờ lúc hành lễ buổi sáng và đọc kinh chiều sau năm giờ là tối ư quan trọng. Cháu nào có thái độ không nghiêm trang liền bị thầy giáo dùng roi mây trừng trị tức khắc.

Ông giáo Phẩm, năm 1935 – 1940, ông ta cũng phải gần 60 tuổi. Không biết ông có khuyết tật gì mà khi phát âm nghe cứ ồm ồm, không biết ông nói gì. Mỗi khi có cháu nào ngủ gật hoặc có sai phạm gì về thái độ, ông ta đánh đập thật tàn nhẫn giữa thanh thiên bạch nhật, trước mặt mọi người lớn dự lễ hoặc cầu kinh. Ông quê ở Thạch Bích – Hà Ðông, cùng làng với cha xứ họ đạo Phú Ða. Sau này tuổi cao sức yếu ông là quản gia của nhà xứ Phú Ða. Quyền thu quyền phát trong tay ông tất cả.

Ông giáo Nhàn (gọi cha xứ Phú Ða bằng cậu ruột). Thật đáng tiếc, tôi lại không nhớ ngày tôi đi học. Năm ấy khoảng là năm 1935, vào một ngày mùa thu mẹ tôi dẫn tôi cắp sách đến trường. Nhà trường ở cạnh nhà thờ, có hai lớp, mỗi lớp có khoảng 30 học sinh. Không hiểu sao gần lúc tan học, ông thầy giáo Nhàn bắt tôi ra phơi nắng, nằm chổng ngược đầu thấp, chân cao ở một dốc 45o từ sân trường lên hè lớp. Mẹ tôi đi qua nhìn thấy cảnh ấy. Tôi nhìn mẹ tôi, trong lòng tủi cực. Bị một hình phạt mà cho đến bây giờ tôi không biết duyên cớ gì. Tôi cho là chỉ ra oai phủ đầu với tôi mà thời ấy gọi là “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Kế đến là ông giáo Bút cũng quê làng Thạch Bích. Sau này tôi từ miền Nam về công tác ở trường Ðại học Quân Y. Khi đi ngang qua nghĩa trang của làng Thạch Bích (huyện Thanh Oai), người ta chỉ mộ của ông giáo Bút, là “Cheft” bót cho một đồn nào đó của Pháp, bị Việt Minh tấn công và đưa xác về quê mai táng.

Các ông giáo khác: ông giáo Duyệt, ông giáo Sự và ông giáo Ðoán tôi không rõ vì tôi không học với các thầy giáo này.

Tôi muốn nói đến thầy giáo người làng Phú Ða quê tôi. Ông tên là Tạ Minh Tri. Trước khi ông về làng dạy học, ông cũng đi ở nhà tu cái, định là sẽ làm linh mục. Không biết sao vì thiếu một yếu tố gì ông bị loại. Khi ông về làng dạy học tuổi cũng gần 40. Ông bị cận thị nặng, luôn phải đeo kính, nếu bỏ kính ra phải nhìn sát vào sách, và mắt luôn chảy nước mắt, hậu quả là bị bệnh mắt hột. Ông đã hai lần muốn tạo ra ngành nghề cho lớp thanh niên có việc làm để có thu nhập đỡ cho cảnh nghèo, đó là nghề làm đăng ten và nghề làm nón lá. Cả hai nghề đó chỉ sau một thời gian 5 – 7 tháng phải dẹp vì thua lỗ. Trong khi giảng bài ở lớp ông chú ý nêu lên những trang sử của dân tộc. Ông ca ngợi vua Lê Lợi và Nguyễn Trãi, sau khi chiến thắng quân Minh (Trung Quốc), cả hai không ai chịu làm vua. Ông nói về giai thoại: Nguyễn Trãi viết chữ trên lá bằng mật “Lợi vi quân, Trãi vi thần” cho kiến đục lỗ đem dâng cho Lê Lợi và nói rằng: đây là mệnh trời đã định. Lúc ấy Lê Lợi lên làm vua. Hoặc một giai thoại khác là ngày Lê Lợi và Lê Lai: Hai mốt Lê Lai, hai hai Lê Lợi. Tức là trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh, một lần Lê Lai đã liều mình cứu chúa, vì thế Lê Lợi có dặn trước khi băng hà rằng nếu sau này cúng giỗ thì cúng Lê Lai trước để tôn trọng người bạn cùng ông bao phen vào sinh ra tử. Năm 2006 vừa qua, tôi về Lam Kinh – Thọ Xuân – Thanh Hoá tham quan và có hỏi người hướng dẫn khu Lam Kinh về hai giai thoại tôi vừa nêu. Họ nói là có như vậy và ngày chết Lê Lai là khác, nhưng Lê Lợi muốn như thế để tôn trọng bạn của mình. Ngày nay những trang sử như vậy ai mà không biết. Nhưng cách đây 70 năm, khi nước ta còn bị ách thống trị của Pháp, một thầy giáo làng mà lại là làng Phú Ða, nơi những thế lực tinh thần khác khống chế mà ông giáo đã nêu mới là khó. Chứng tỏ ông hiểu nhiều vấn đề về lịch sử dân tộc, đâu là lẽ phải, đâu là chân lý cuộc đời. Ông lấy vợ năm 1939. Bà tên thường gọi là cô Tý Con. Gia đình bà cách nhà tôi hơn 100m, tức là cùng một xóm. Tuổi bà có lẽ cũng bằng tuổi ông giáo. Ngày làm lễ cưới tại nhà thờ Phú Ða, tôi và đội đồng ca nhà thờ rất hồ hởi cất cao giọng hát để mừng cho thầy giáo mình bắt đầu vào một cuộc sống đời thường kể từ buổi lễ này. Trên bao lơn kia thầy giáo và cô Tý Con ngồi hai ghế kê gần nhau, nhưng vẫn có khoảng cách để chứng tỏ trước đây ông bà trong trắng và chỉ sau buổi lễ hôm nay cuộc đời sẽ bắt đầu hưởng hạnh phúc của đời con người như bao thế hệ trước đã sinh ra, để có ông bà bây giờ đang ngồi sóng đôi. Bà sẽ đưa tay ra để ông trao nhẫn cưới vào ngón tay của bà. Vào giây phút thiêng liêng ấy tốp ca chúng tôi càng cất cao tiếng hát hoà với tiếng đàn gió (Harmonium) rền vang khắp thánh đường.

Thế nhưng cuộc đời cũng lắm tai ương. Ông vẫn làm thầy giáo dạy ở làng. Ngày Cách mạng tháng  8, khi còn tổng Công Xá, ông làm trong ủy ban lâm thời. Ðến khi Pháp lập bốt tại làng hơn một năm tại chợ Xào, với ông gọi là loạn lạc không dạy học được nữa. Năm 1952 lính Pháp đi xe bọc thép về làng để thị uy, sau đó chúng rút theo con đường 62B lên đầu làng. Những khẩu pháo trên xe nó nã về giữa làng. Ông bà và đứa con trai trai lớn thấy một số nhà đang cháy. Giữa bom đạn không biết ông đi đâu. Hoá ra sau đó phát hiện ông nằm cạnh hố đạn pháo nổ trước đó. Ông bị một miếng bom văng vào đầu gối, máu chảy thấm ướt vào bộ quần áo trắng, đỏ khắp người. Bà con khiêng ông ra khỏi nơi đó và đưa vào nhà thờ Phú Ða. Sau một ngày thì ông mất. Vợ ông sinh với ông ba người con trai. Người con trai lớn năm nay đã ngoài 60, một thời gian làm chủ tịch xã Công Lý nay đã hưu trí.

Với tôi ông đã dẫn dắt mấy năm và đến ngày 2/5/1941 dẫn tôi đi thi ở trên Phủ, được cái bằng sơ học yếu lược (Certificate Primaire). Thời ấy với tấm bằng như vậy và trình độ học vấn như thế chưa thể làm được việc gì, nghĩa là giống như học sinh cấp I ngày nay, nhưng so sánh như thế tôi thấy nó khập khiễng quá. Tôi thấy nhận thức ban đầu cuộc đời mình để sau này nối tiếp kiến thức về nhiều việc khác là vô cùng quan trọng. Tôi nhớ ơn thầy.

Tôi ra đi đến nay đã 63 năm. Ra đi âm thầm có từ giã ông được đâu, vì cuộc sống giữa thầy và trò luôn phải lo sao cho có cơm ăn. Thầy giáo của tôi đã chết do bom đạn của kẻ đi cướp nước sát hại ngay tại mảnh đất chúng tôi sinh ra. Thầy giáo thật bền bỉ bao năm để mở mang tâm hồn cho những thế hệ con em làng Phú Ða. Nhưng sự mong đợi của thầy không đạt được mục đích.

Nhà trường xưa kia có hai lớp bên cạnh nhà thờ. Năm 1955 tôi thấy chuyển ra ngoài. Sân nhà thờ cũng đủ cho hai lớp học. Vài năm sau chuyển ra nhà ông Hội Vinh ở một dãy nhà tư cho học sinh học. Tôi thấy hơn 60 năm rồi mà cơ sở hạ tầng về việc học hành cho con em của làng vẫn không được mở mang.  Ðầu năm 2006 tôi thấy nhà nước cho xây trường học ở sân kho hợp tác xã xưa kia. Tốt hay không tôi chưa biết.

 

Viết xong ngày 27/2/2006

ĐỖ VĂN TRÁC

Đánh giá bài viết!