Làng Phú Đa Quê Tôi – Phần III

486

II.           Nghĩa trang làng Phú Ða

Nghĩa trang làng Phú Ða (nhân dân thường gọi là Vườn Thánh) có từ hơn 100 năm nay, là nơi an nghỉ cuối cùng của mọi người dân làng khi quá cố và sẽ tiếp tục mãi mãi về sau này. Trong mọi gia đình ở quê nhà hoặc tha hương xa xôi ở mọi miền Tổ Quốc cũng như một số kiều bào ở nước ngoài, ai ai cũng luôn nhớ về quê hương đất tổ, mà nhất là nơi có tổ tiên ông bà và người thân của mỗi gia đình đã an nghỉ. Có người dù chết ở xa cũng đưa về đây để được mồ yên mả đẹp. Hịên giờ nghĩa trang của làng Phú Ða ước lượng khỏang gần 2000 mộ cả thảy, và trong những năm tới sẽ tăng dần.

Từ trước đến nay, việc quản lý chưa hẳn thuộc về cơ quan nào của làng xã, vì thế khi chôn cất mạnh ai muốn chỗ nào là tùy thuộc ý muốn, không có hàng ngũ, không hàng rào, không có đường đi nội bộ.

Tôi mạo muội nêu một số điểm:

1.            Xây tường rào bao quanh có cổng vào nghĩa trang.

2.            Giao hẳn về cho một cơ quan hành chính quản lý, có quy chế rõ ràng, được thông qua Hội đồng Nhân dân để lấy ý kiến.

3.            Phần ao phía đông nên đổ cát mở rộng diện tích thêm mấy nghìn m2 (trước đây lấy đất làm gạch).

4.            Vận động tài chính để nhiều người góp công góp của vào việc chỉnh trang.

III. Tôi với quê hương

Tôi sinh ra ngày 11/04/1926 tại mảnh đất của tổ tiên ông bà để lại thuộc xóm Một Phú Ða ngày nay. Tuổi thơ vẫn ở đó. Năm 14 tuổi mồ côi cha khi tuổi thơ đã qua, nhưng tuổi trưởng thành chưa tới. Nhận thức của tôi khi bố chết: lấy gì mà ăn, ruộng nương không có để mà cày cấy ra lúa gạo, tài sản trong nhà là con số không, ở trong mái nhà gỗ năm gian lợp rạ. Từ năm 13 tuổi trước khi bố chết tôi đã biết đi kéo vó đêm. Có khi quá nửa đêm được đầy giỏ cá, nếu bây giờ tính ra là 4 – 5 kg, nhưng đem bán chẳng được bao nhiêu tiền. Sau khi bố tôi chết, chị gái về nhà chồng, còn lại hai mẹ con. Cảnh nhà hiu quạnh quá thiếu thốn đủ điều. Tôi càng ra sức tìm mọi cách đối phó với hoàn cảnh như vậy. Các nghề như đơm đó, đánh dậm, câu cá, kéo vó v.v… đều làm đủ. Nghề đánh dậm phải lội nước. Ở miền Bắc nước ta về mua đông gió rét căm căm, lội nước rét buốt tê tái nhưng cũng phải cố. Bây giờ ở quê tôi cái nghề đánh dậm hầu như bị tuyệt chủng, vì các cánh đồng xưa kia sau vụ lúa tháng 10, cá tôm còn nhiều ở những cánh đồng có nước, bây giờ hệ thống thủy lợi tiêu nước hết sau vụ và thuốc bảo vệ thực vật diệt cá tôm cua gần như hết còn đâu mà ra đồng đánh dậm. Ngay đến cái dậm và những phụ tùng của nó tôi thuộc làu như từ đỉên bách khoa. Tôi đi chợ Cầu Không mua cái dậm nhỏ. Người bán lúc ấy giả 3,4 hào; họ chưa cạp, hình thù giống như quả cật heo bò nhưng lỗ thoát nước họ đơm giống như rổ cạp mép lại và tra vào miệng một cán bằng tre ở giữa sao cho cân bằng khi đặt xuống nước và kéo dậm lên được để dùng nhẹ nhàng. Ở hai đầu dậm đặt hom. Khi cá đã vào khó thoát ra được. Một ống tre rỗng dài khoảng 1m, đục một hàng tạo khe hở để khi đặt xuống nước không khí thoát ra tiếng kêu đuổi cá về phía miệng cái dậm. Muốn thế đặt một cây tre bằng ngón chân cái hình vòng cung, buộc vào hai đầu của ống tre cho chắc chắn để khi sục xuống bùn di chuyển sao cho nhanh chóng, vừa đến miệng dậm nhấc lên cá tôm cua đã ở trong dậm. Những thao tác như vậy cứ lặp đi lặp lại, chỉ khi nào đầy giỏ cá tôm hoặc rét quá, hoặc mệt thì về.

Ở quê tôi thời bấy giờ nghề tìm mỏ làng là nghề mà xã hội coi là thấp hèn nhất, còn nghề đánh dậm người ta coi là nghề hạng bét. Biết làm sao, tôi cũng muốn đi cày lắm nhưng chưa vác được cái cày ở cái tuổi 13 – 14. Tôi muốn đi gặt nhưng không có hái cắt lúa bằng tay trái.

Năm 1990 một lần về quê Phú Ða, ra những cánh đồng xưa kia ngắm nhìn. Hôm ấy vào một buổi chiều mùa đông thời tiết lạnh, trời âm u. Thấy một chị đánh dậm ở dưới kênh dẫn nước. Quần áo chị ướt sũng. Những thao tác của người đàn bà làm việc dưới nước sâu gần thắt lưng chị. Tôi đợi một lúc và chen vào hỏi chị: chị ơi, người dân Phú Ða bây giờ đời sống ra sao? Chuông nhà thờ vừa dứt lúc 5 giờ chiều. Chị ngước nhìn tôi, thấy thái độ của tôi hỏi thành thật, chị trả lời tôi rõ ràng, dứt khoát: U tối lắm bác ơi! Còn khổ lắm bác ơi! Tôi suy nghĩ câu nói của chị: u tối đây là tinh thần chưa được mở mang, hay là cuộc sống cơm áo còn u tối. Tôi chào chị và suy nghĩ tiếp về cái nghề hạng bét mà cái tuổi tôi 14 – 15 đã làm cách đây hơn 60 năm.

Tôi xa quê đã hơn 60 năm rồi. Những gì tôi kể, viết ra đây dựa vào trí nhớ hoặc suy luận từ thâm tâm mà ra. Có lần ngồi chuyện trò cùng thế hệ xưa kia, nay đã gần 80 tuổi, có người nói với tôi: chúng tôi nhẽ ra thân thiết với anh, nhưng vì anh theo cộng sản nên nó hạn chế. Tôi chỉ biết nói là việc thân thiện hay không tuỳ thuộc vào mọi người, không ai ép buộc được. Tôi có hỏi lại: từ ngày miền Bắc giải phóng, ở làng Phú Ða có con em nào đi thi đại học trúng tuyển rồi từ làng ra đi nhập học không? Những bà con nói rằng “không có ai”. Như vậy trên 50 năm chưa có ai học hết cấp III phổ thông rồi đi thi đại học và nhập học xuất phát từ làng Phú Ða. Ôi thật lạ lùng quá!

Thường ai cũng nói: quê hương là chùm khế ngọt. Tôi cũng nói thế, và thêm,  còn có chua, và thậm chí có vị chát nữa, nhưng vẫn là chùm khế Để rồi về thăm, vì nơi đây còn mồ mả tổ tiên ông bà, cha mẹ và những chị em ruột thịt, những người thân khác tại làng Phú Ða quê tôi.

Viết xong ngày 27/2/2006

ĐỖ VĂN TRÁC

Làng Phú Đa Quê Tôi – Phần III
2.8 (56%) 5 vote[s]